1. Viêm khớp ở người bị viêm đường ruột. Mặc dù viêm khớp thường được đánh giá là căn bệnh của tuổi già nhưng thực tế, ngay cả người trẻ tuổi vẫn có nguy cơ bị viêm khớp từ sớm, đặc biệt nếu họ mắc bệnh IBD. Viêm da cơ địa bội nhiễm khiến người bệnh đau đớn, khó chịu, khó điều trị khỏi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, thẩm mỹ, tâm lý, công việc. Viêm da cơ địa ở trẻ em bị bội nhiễm nguy hiểm hơn rất nhiều lần so với người lớn. Bệnh có thể gây hại Viêm đa khớp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị. Mặc dù viêm đa khớp không còn là thuật ngữ xa lạ đối với nhiều người trong những năm gần đây nhưng thực tế, rất ít người hiểu đúng và đủ về tình trạng sức khỏe này. Về cơ bản, tìm hiểu về bệnh này Bệnh viêm đa cơ là bệnh khó điều trị. Loại thuốc chính được sử dụng để điều trị viêm đa cơ, ức chế tổn thương cơ do viêm thường là glucocorticoid. Tuy nhiên, loại thuốc này cũng có thể gây tổn thương cho chính cơ, dẫn đến yếu cơ dai dẳng. Do đó, cần có những Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc – Địa chỉ chữa viêm quanh khớp vai đáng tin cậy. Viêm quanh khớp vai không chỉ gây đau nhức, khó chịu mà còn có thể làm đông cứng khớp vai nếu để kéo dài, khiến cho người bệnh không thể vận động. Do đó, người bệnh cần lựa chọn cho Viêm đa cơ (polymyositis) là một bệnh tự miễn tương đối hiếm gặp. Tỷ lệ mắc bệnh ở Hoa Kỳ dao động từ 0.5 – 8.4 trường hợp trên 1 triệu dân. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn da trắng và phụ nữ gấp đôi nam giới. Nó thường xảy ra ở những người trên 20 tuổi, đặc biệt là từ 45 – 60 tuổi. Tuy 7wAy. Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Lê Dương Tiến - CK Nội cơ xương khớp, Khoa Khám bệnh & Nội khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Viêm cơ là tình trạng viêm xảy ra tại vùng cơ bắp. Yếu, sưng và đau là những triệu chứng viêm cơ phổ biến nhất. Nguyên nhân gây viêm cơ bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, bệnh tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân gây bệnh. 1. Viêm cơ là gì? Viêm cơ là tình trạng viêm tại các tổ chức cơ bắp gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm trùng, chấn thương, tình trạng tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Triệu chứng đặc trưng của viêm cơ là yếu, sưng và đau cơ. Các phương pháp điều trị viêm cơ là khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. 2. Các loại nhiễm trùng gây viêm cơ Bệnh tự miễn Tình trạng viêm toàn thân có thể gây viêm cơ, trong đó có bệnh tự miễn - hệ miễn dịch tấn công vào các mô cơ quan của chính nó. Một số bệnh có khả năng gây viêm cơ nghiêm trọng bao gồmViêm da cơ địaViêm đa cơViêm cơ thể Inclusion body myositis IBMMột số bệnh tự miễn khác có xu hướng gây ra các dạng viêm cơ nhẹ hơn, bao gồmLupusXơ cứng bìViêm khớp dạng thấpBệnh tự miễn thường là nguyên nhân gây viêm cơ nghiêm trọng nhất, cần điều trị lâu dài. Viêm da cơ địa có thể gây ra tình trạng viêm cơ Nhiễm trùng Nhiễm vi - rút là tình trạng nhiễm trùng phổ biến nhất gây ra viêm cơ. Ngoài ra, vi khuẩn, nấm hoặc các sinh vật khác cũng có khả năng gây ra viêm cơ. Vi - rút hoặc vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp vào mô cơ hoặc giải phóng các chất gây tổn thương sợi cơ. Một số bệnh do vi - rút gây ra như cúm, cảm lạnh thông thường, HIV là một vài trong số các bệnh có khả năng gây viêm cơ. Thuốc Thuốc chữa bệnh và một số loại chất khác có thể là nguyên nhân gây ra tổn thương cơ tạm thời. Thuốc gây viêm cơ hoặc bệnh về cơ bao gồmStatinColchicinePlaquenil hydroxychloroquineAlpha-interferonCocaineRượuBệnh về cơ có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu dùng thuốc, hoặc có thể xảy ra sau khi dùng thuốc trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Đôi khi nó được gây ra bởi sự tương tác giữa hai loại thuốc khác nhau. Viêm cơ nghiêm trọng do thuốc là rất hiếm. Chấn thương Tập thể dục cường độ cao có thể dẫn đến đau, sưng và yếu cơ trong nhiều giờ hoặc vài ngày sau khi tập luyện. Các triệu chứng trên là dấu hiệu của viêm cơ. Các triệu chứng viêm cơ sau khi tập thể dục hoặc chấn thương sẽ giảm đi nhanh chóng sau khi nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe. Tiêu cơ vân Tiêu cơ vân xảy ra khi cơ bắp bị tổn thương trong thời gian ngắn. Đau cơ, yếu và sưng là triệu chứng của tiêu cơ vân. Nước tiểu cũng có thể chuyển sang màu nâu sẫm hoặc đỏ. 3. Triệu chứng viêm cơ Triệu chứng chính của viêm cơ là yếu cơ có thể nhận thấy qua thăm khám lâm sàng hoặc các xét nghiệm. Đau cơ có thể có hoặc không. Viêm da cơ, viêm đa cơ và một số tình trạng viêm khác có xu hướng gây yếu cơ dần dần và tiến triển nặng sau vài tuần hoặc vài tháng. Các vị trị yếu cơ thường gặp là cổ, vai, hông và lưng. Yếu cơ có thể gây té ngã và khó khăn khi đứng dậy khỏi ghế hoặc sau khi ngã. Các triệu chứng khác có thể gặp trong viêm cơ bao gồmPhát banMệt mỏiDa vùng tay dày lênKhó nuốtKhó thởNhững người bị viêm cơ do vi - rút thường có các triệu chứng nhiễm vi - rút như sổ mũi, sốt, ho và đau họng, hoặc buồn nôn và tiêu chảy. Đa số các triệu chứng nhiễm vi - rút có thể biến mất vài ngày hoặc vài tuần trước khi các triệu chứng viêm cơ bắt số ít người có triệu chứng đau trong bệnh viêm cơ. Hầu hết các cơn đau cơ không phải do tình trạng viêm mà do chấn thương, căng thẳng, hoặc các bệnh thông thường như cảm lạnh và cúm. Những cơn đau cơ thông thường này được gọi là chứng đau cơ. Bác sĩ nghi ngờ viêm cơ dựa trên triệu chứng yếu cơ hoặc các dấu hiệu khác liên quan đến viêm cơ. Các xét nghiệm chẩn đoán viêm cơ bao gồmXét nghiệm máu Nồng độ enzyme cơ cao, chẳng hạn như creatine kinase cao, là dấu hiệu chỉ điểm của viêm cơ. Các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu kiểm tra các kháng thể bất thường giúp xác định tình trạng tự miễn MRI Một máy quét sử dụng nam châm công suất cao và máy tính tạo ra hình ảnh của các cơ. Quét MRI có thể giúp xác định các khu vực của viêm cơ và thay đổi trong cơ theo thời Bằng cách chèn các điện cực kim vào cơ bắp, bác sĩ có thể kiểm tra phản ứng của cơ với tín hiệu thần kinh điện. EMG có thể xác định các cơ bị yếu hoặc bị tổn thương do viêm thiết cơ Đây là xét nghiệm chính xác nhất để chẩn đoán viêm cơ. Bác sĩ xác định yếu cơ bằng cách rạch một đường nhỏ và lấy một mẫu mô cơ nhỏ để xét nghiệm. Sinh thiết cơ là xét nghiệm chẩn đoán cuối cùng ở hầu hết những người bị viêm cơ. Xét nghiệm máu là một trong những phương pháp chẩn đoán bệnh viêm cơ 5. Điều trị viêm cơ Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân. Tình trạng viêm gây viêm cơ có thể cần điều trị bằng thuốc ức chế hệ miễn dịch, bao gồmPrednisoneAzathioprine ImuranMethotrexateViêm cơ do nhiễm trùng thường là do vi - rút, và không có phương pháp điều trị cụ thể. Viêm cơ do vi khuẩn là không phổ biến và thường cần dùng kháng sinh để ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn đe dọa đến tính dù tiêu cơ vân hiếm khi xảy ra do viêm cơ, nhưng một khi xảy ra có thể gây tổn thương thận vĩnh viễn. Những người bị tiêu cơ vân phải nhập viện để được truyền dịch tĩnh mạch liên tục với số lượng cơ liên quan đến một loại thuốc được điều trị bằng cách ngừng thuốc. Trong trường hợp viêm cơ do thuốc statin, tình trạng viêm thường giảm trong vòng vài tuần sau khi ngừng nhân gây viêm cơ bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, bệnh tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân gây bệnh vì vậy tất nhiên cần phải khám ngay để tìm nguyên nhân chính gây viêm cơ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Bài viết tham khảo nguồn XEM THÊM Viêm cơ nhiễm khuẩn Những điều cần biết Tìm hiểu thông tin về viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơ Điều trị bệnh viêm mô tế bào theo hướng dẫn của Bộ Y tế Dịch vụ từ Vinmec Viêm đa cơ là nhóm bệnh tự miễn với tổn thương chính là tình trạng viêm mạn tính của các bó cơ vân với biểu hiện đặc trưng là yếu cơ vùng gốc chi đối xứng hai bên có kèm tăng các men cơ xương. Tổng quan bệnh Viêm đa cơ Viêm đa cơ kèm theo có tổn thương da thì gọi là bệnh Viêm da – cơ hay viêm bì cơ. Ngoài tổn thương ở cơ hoặc kèm theo da, các bệnh nhân thường có biểu hiện khác ở gối, phổi, tim mạch, tiêu người già, viêm đa cơ và viêm da – cơ có tỷ lệ kết hợp với bệnh ung thư cao hơn và ngược lại ung thư biểu hiện như viêm da – cơ. Bệnh viêm đa cơ và viêm da – cơ thuộc nhóm bệnh tự miễn nên còn gọi là Viêm đa cơ tự miễn với nguyên nhân hiện nay vẫn chưa được biết rõ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh còn có xu hướng tiến triển theo mùa trong năm và có liên quan đến kháng thể tự miễn và các yếu tố di truyềnNgoài ra, các tác nhân như yếu tố môi trường, các tác nhân gây nhiễm trùng như vi khuẩn, virus, các loại thuốc cũng được xem là nguyên nhân gây bệnh. Viêm đa cơ Triệu chứng bệnh Viêm đa cơ Khi người bệnh đến khám chuyên khoa, bác sĩ sẽ kết hợp giữa biểu hiện lâm sàng của người bệnh và hỏi bệnh. Sau khi khám xong, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa nhưXét nghiệm máu phát hiện các enzym cơ trong huyết thanh tăng cao như CK, GOT, GPT... ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân dương tính, gặp các kháng thể đặc hiệu với viêm cơ tự miễn trong cơ cơ cho thấy các hình ảnh điện thế phức tạp, biên độ thấp, yếu cơ, cơ dễ bị kích thiết cơ thấy hình ảnh bất thường của cơ, có xâm lấn, thoái hóa và hoại tử, Có xuất hiện teo các tổ chức xung quanh, theo tiến triển bệnh sẽ dẫn đến việc các tổ chức xơ thay thế các tổ chức cơ bị hoại tử làm chia tách bó thiết da cho kết quả thâm nhiễm, teo da, thoái hóa các tổ chức của tra bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chụp CT, đo chức năng hô hấp giúp cho việc xác định tổn thương và xâm lấn để có biện pháp điều trị đạt kết quả cao. Đường lây truyền bệnh Viêm đa cơ Triệu chứng của viêm đa cơ và viêm da – cơ thường diễn biến từ từ trong vài tuần hoặc vài tháng nên rất khó phát hiện sớm. Bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, sút cân đặc biệt khi kết hợp với bệnh ung thư. Các triệu chứng biểu hiện nhưCơ Bệnh nhân có biểu hiện đau cơ, xơ hóa cơ gây tình trạng co rút cơ, hạn chế vận động các khớp; yếu vùng cơ gốc chi, đối xứng hai bên; yếu cơ vùng hầu họng gây nên tình trạng khó ăn, khó nuốt, nói tiếng bị khàn; yếu cơ vùng liên sườn dẫn đến tình trạng người bệnh khó thở và cuối cùng sẽ dấn đến teo cơ...Da Dấu hiệu quan trọng trong bệnh viêm da – cơ là tổn thương da gồm có các dát màu đỏ tím, có vảy. Ở giai đoạn tiến triển, có thể teo da, tăng hoặc giảm sắc tố, xuất hiện các ban đỏ, giãn mao mạch ở xung quanh móng Xuất hiện đau khớp hoặc viêm khớp thường gặp ở các khớp nhỏ của bàn tay, cổ tay nhưng không gây biến dạng đọng calci ở da và các tổ chức. Bệnh nhân có thể sờ thấy các hạt cứng chắc hoặc nhìn thấy các hạt màu trắng khi tổn thương ở lớp nông. Calci hóa sẽ gây ra tình trạng vận động kém của biểu hiện khác Bệnh nhân xuất hiện tình trạng khó thở, xơ phổi, viêm phổi và tràn dịch. Ngoài ra còn có các bệnh lý về thận, hội chứng thận hư, các bệnh lý ung thư kèm theo tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp Đối tượng nguy cơ bệnh Viêm đa cơ Viêm đa cơ, viêm da – cơ thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi từ 10 – 15 tuổi và người lớn tuổi từ 45 – 60 tuổi, một vài trường hợp có ghi nhận mắc phải ở trẻ em dưới 10 tuổi. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn người da trắng và phụ nữ tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đàn ông. Phòng ngừa bệnh Viêm đa cơ Hiện nay chưa có bất kỳ biện pháp nào giúp phòng ngừa bệnh viêm đa cơ, viêm da – cơ. Người bệnh khi có các biểu hiện cần đi khám bệnh sớm tại các chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị tốt nhất. Các biện pháp chẩn đoán bệnh Viêm đa cơ Khi người bệnh đến khám chuyên khoa, bác sĩ sẽ kết hợp giữa biểu hiện lâm sàng của người bệnh và hỏi bệnh. Sau khi khám xong, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa nhưXét nghiệm máu phát hiện các enzym cơ trong huyết thanh tăng cao như CK, GOT, GPT... ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân dương tính, gặp các kháng thể đặc hiệu với viêm cơ tự miễn trong cơ cơ cho thấy các hình ảnh điện thế phức tạp, biên độ thấp, yếu cơ, cơ dễ bị kích thiết cơ thấy hình ảnh bất thường của cơ, có xâm lấn, thoái hóa và hoại tử, Có xuất hiện teo các tổ chức xung quanh, theo tiến triển bệnh sẽ dẫn đến việc các tổ chức xơ thay thế các tổ chức cơ bị hoại tử làm chia tách bó thiết da cho kết quả thâm nhiễm, teo da, thoái hóa các tổ chức của tra bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chụp CT, đo chức năng hô hấp giúp cho việc xác định tổn thương và xâm lấn để có biện pháp điều trị đạt kết quả cao. Các biện pháp điều trị bệnh Viêm đa cơ Việc phát hiện và điều trị bệnh rất quan trọng, điều trị bệnh sớm hiệu quả càng cao và ít biến chứng. Các biện pháp điều trị hiện nay thường sử dụng nhưĐiều trị thuốc theo chỉ định của bác sĩ Điều trị bằng Corticoid kết hợp với các thuốc điều trị khác theo chỉ định. Không tự ý dùng thuốc khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ. Việc dùng thuốc bừa bãi không những không điều trị được bệnh mà còn tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc làm thất bại trong việc điều huyết tươngtrong trường hợp bệnh tiến triển nặng, điều trị thuốc không đáp vật lý trị liệu tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh và theo chỉ định của bác sĩ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Giá trị tham chiếu và ý nghĩa lâm sàng của kết quả xét nghiệm ANA kháng thể kháng nhân Mục đích của xét nghiệm AMA-M2 Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là bệnh gì? Nguy hiểm thế nào? Ngày 9/6, Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, sau một tuần điều trị tích cực, họ đã cứu sống bệnh nhi Trương Phúc Gia H 11 tuổi, trú TP Huế, Thừa Thiên - Huế bị viêm cơ tim tối cấp có biến chứng sốc đó, chiều 30/5, bệnh nhi H được đưa đến Khoa Hồi sức tích cực - Cấp cứu Nhi trong tình trạng đau ở vùng sau xương ức, điện tâm đồ có hình ảnh rối loạn nhịp thất, thiếu máu cơ tim, xét nghiệm phản ánh cơ tim bị tổn thăm khám, các bác sĩ chẩn đoán cháu bé bị viêm cơ tim tối cấp, nguy cơ tử vong rất cao. Ngay sau đó, bệnh nhân được điều trị nội khoa tích cực theo hướng viêm cơ tim tối cấp và được dõi sát chức năng nhi bị sốc tim may mắn được các bác sĩ cứu thoát "cửa tử"Sau một ngày điều trị, bệnh diễn tiến nặng hơn, xuất hiện rung thất, giảm tri giác, vô mạch, các bác sĩ đã tiến hành hồi sức tim phổi, sốc điện hai lần và sử dụng thuốc chống loạn nhịp thất đường tĩnh mạch, tình trạng rối loạn nhịp thất vẫn còn, bệnh tiếp tục xuất hiện sốc huyết áp tụt, vô mạch, không có nước tiểu, chức năng co bóp cơ tim giảm nặng còn 32%.Xác định đây là một trường hợp sốc tim do viêm cơ tim tối cấp có rung thất, nguy cơ tử vong cao nếu không chỉ định kỹ thuật hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể. Các bác sĩ Nhi đã khẩn trương hội chẩn liên chuyên khoa toàn viện để đưa ra phương án tối ưu hội chẩn, bệnh nhân được tiến hành ngay kỹ thuật oxy hóa qua màng ngoài cơ thể hỗ trợ tuần hoàn VA-ECMO kết hợp thở máy xâm nhập và điều trị nội khoa tích 6 ngày điều trị, chức năng co bóp của tim cải thiện, chỉ số phản ảnh tổn thương cơ tim giảm, các thông số chức năng sống và chức năng tim cải thiện, bệnh nhân được ngưng hỗ trợ VA-ECMO và cai thở bệnh nhi đã tỉnh táo, môi hồng, các thông số chức năng sống được cải thiệnHiện tại bệnh nhi H tỉnh táo, tiếp xúc tốt, uống được sữa, ăn cháo, mạch và huyết áp ổn định, không còn thở oxy và đang được các bác sĩ tiếp tục chăm sóc, theo dõi, dự kiến được ra viện trong đầu tuần Phạm Như Hiệp - Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cho biết "Kỹ thuật VA-ECMO đã được các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện thành công đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 03/2009, chủ yếu trong hồi sức cho bệnh nhân viêm cơ tim, sốc tim sau phẫu thuật tim mạch. Hiện nay VA-ECMO là kỹ thuật hỗ trợ tim và phổi giúp cứu sống cho rất nhiều bệnh nhân nguy kịch, không đáp ứng với các điều trị thông thường; giúp tim và phổi nghỉ ngơi và chờ thời gian hồi phục". Viêm cơ thể vùi Inclusion-body myositis Viêm cơ thể vùi là dạng bệnh duy nhất xảy ra phổ biến ở nam giới. Hầu hết những người mắc phải tình trạng này đều trên 50 tuổi. Triệu chứng đầu tiên của bệnh là yếu cơ ở cổ tay, ngón tay và đùi. Thông thường, các cơ nhỏ dễ bị yếu hơn và sẽ không đối xứng, nghĩa là một bên cơ thể sẽ bị nặng hơn bên còn lại. Các dấu hiệu khác của viêm cơ thể dùi gồm Đi lại khó khăn Dễ vấp ngã và mất thăng bằng Té ngã thường xuyên Khó ngồi xổm Không thể cầm nắm đồ vật, bàn tay và ngón tay kém linh hoạt Khó nuốt Yếu cơ Đau cơ Giảm phản xạ gân sâu Viêm cơ ở người trẻ Juvenile myositis Tình trạng này thường xảy ra ở trẻ dưới 18 tuổi, đặc biệt là bé gái. Tương tự các dạng viêm cơ khác, tình trạng này cũng gây ra yếu cơ và phát ban. Các triệu chứng khác của bệnh gồm Các vết ban màu đỏ tím, có thể nhìn thấy rõ ở mí mắt hoặc khớp Mệt mỏi Ủ rũ hoặc cáu kỉnh Đau dạ dày Khó khăn khi vận động, chẳng hạn như gặp khó khăn khi leo cầu thang, đứng dậy sau khi ngồi và mặc quần áo Gặp khó khăn khi đưa tay lên cao, như gội đầu hoặc chải tóc Khó nâng đầu Sưng hoặc đỏ da xung quanh móng tay Khó nuốt Cục canxi cứng dưới da Yếu cơ Đau cơ và khớp Giọng khàn khàn Các sẩn Gottron vết sưng được tìm thấy trên đốt ngón tay, khuỷu tay và đầu gối Sốt Viêm đa cơ Tình trạng viêm đa cơ thường bắt đầu bằng dấu hiệu suy yếu các cơ gần thân người, sau đó lan rộng khắp cơ thể. Những người mắc viêm đa cơ thường có thêm các bệnh tự miễn khác. Các triệu chứng của bệnh gồm Yếu cơ Đau cơ Khó nuốt Dễ té ngã Gặp khó khăn khi đứng dậy Mệt mỏi Ho dai dẳng Da tay trở nên dày Khó thở Sốt Sụt cân Khàn giọng Viêm cơ do thuốc Toxic myositis Các thuốc hạ cholesterol, như statin, là một trong những thuốc phổ biến gây viêm cơ do thuốc. Một số loại thuốc và chất khác có thể gây ra tình trạng này như Một số thuốc ức chế miễn dịch nhất định Omeprazole Adalimumab Toluene Người bệnh có thể cảm thấy triệu chứng cải thiện nếu ngưng thuốc gây ra tình trạng này. Tuy nhiên, bạn không nên tự ý ngưng thuốc mà hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để tránh các tác dụng phụ không mong muốn. Triệu chứng bệnh viêm cơ Các triệu chứng viêm cơ ở mỗi người sẽ khác nhau, bao gồm Các cơ trở nên yếu hoặc mệt, khiến cho các hoạt động hàng ngày, như leo cầu thang hoặc chải đầu, gặp khó khăn. Đau cơ Cảm thấy mềm khi chạm vào cơ Sưng cơ Cảm thấy không khỏe Sụt cân Đổ mồ hôi đêm Các cơ thường bị ảnh hưởng nhất là cơ vai, hông và đùi. Cơ yếu và mỏi dễ khiến người bệnh té ngã hơn. Ngoài ra, một số tình trạng sức khỏe khác cũng có thể có triệu chứng tương tự như bệnh viêm cơ, như Tác dụng phụ của một số loại thuốc – ví dụ như steroid corticosteroid và thuốc hạ cholesterol, chẳng hạn như statin Ảnh hưởng của việc uống quá nhiều rượu trong thời gian dài Các vấn đề do nội tiết tố – ví dụ như tuyến giáp hoạt động kém hoặc quá mức Mức vitamin D thấp Mức canxi hoặc magiê bất thường Nhiễm trùng Tình trạng cơ hiếm gặp khác. Nguyên nhân gây bệnh viêm cơ Các tế bào bạch cầu của hệ miễn dịch thường bảo vệ chúng ta khỏi những vi sinh vật trong môi trường, như vi khuẩn và virus. Trong viêm cơ, hệ miễn dịch làm tổn thương nhầm mô cơ khỏe mạnh, khiến chúng trở nên yếu và gây ra các tình trạng liên quan khác. Thực tế, nguyên nhân chính xác gây ra bệnh vẫn chưa được biết. Các chuyên gia cho rằng chấn thương và nhiễm trùng đóng vai trò trong việc gây ra viêm cơ. Chẩn đoán bệnh viêm cơ Bác sĩ sẽ hỏi vế các triệu chứng của bạn và cho làm một số xét nghiệm để loại trừ các tình trạng khác, gồm Xét nghiệm máu, để kiểm tra mức tăng của các enzyme và kháng thể trong máu Sinh thiết để có thể kiểm tra sưng, tổn thương và những thay đổi khác Chụp MRI Điện cơ đồ EMG ghi lại các tín hiệu điện từ các đầu dây thần kinh trong cơ Điều trị viêm cơ Thuốc Phương pháp điều trị viêm cơ ban đầu là steroid, thường được bắt đầu với liều cao. Steroid có thể được dùng dưới dạng viên nén hoặc thuốc tiêm. Chúng giúp giảm viêm nhanh chóng, giải quyết cơn đau cơ và cảm giác không khỏe. Steroid liều cao có thể có tác dụng phụ, vì vậy bác sĩ sẽ cố gắng giảm liều càng nhanh càng tốt. Uống steroid trong một thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ phát triển tình trạng loãng xương, khiến xương trở nên mỏng và dễ gãy hơn. Có những loại thuốc bạn có thể dùng cùng với steroid để giảm nguy cơ mắc bệnh loãng xương, gồm bisphosphonate thuốc chống loãng xương. Đôi khi các triệu chứng viêm cơ có thể bùng phát khi giảm liều steroid và bác sĩ thường có thể kê đơn các loại thuốc khác để giúp giảm viêm, gồm methotrexate, azathioprine, ciclosporin, tacrolimus và mycophenolate. Hầu hết trong số này là các loại thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm DMARDs, và bạn sẽ cần làm xét nghiệm máu thường xuyên để kiểm tra các tác dụng phụ có thể xảy ra. Thỉnh thoảng những loại thuốc này có thể kiểm soát được bệnh viêm cơ. Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, bác sĩ có thể chỉ định các thuốc sau Cyclophosphamide DMARD Liệu pháp sinh học rituximab Globulin miễn dịch. Các liệu pháp sinh học hoạt động bằng cách ngăn chặn các mục tiêu cụ thể trong hệ thống miễn dịch gây viêm. Globulin miễn dịch là các kháng thể được thu thập từ máu được hiến từ những người khỏe mạnh, có thể giúp ngăn chặn hệ miễn dịch tấn công các mô trong cơ thể. Trong quá trình điều trị, bạn có thể cảm thấy không khỏe. Ngay cả trong trường hợp nghiêm trọng, viêm cơ thường đáp ứng với điều trị, mặc dù nhiều người cần điều trị bằng thuốc suốt đời để kiểm soát tình trạng của họ. Tập thể dục và vật lý trị liệu Khi các bệnh viêm cơ đang “hoạt động” bạn nên nghỉ ngơi, nhưng một khi bệnh đã thuyên giãm thì việc tập thể dục thường xuyên có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng và sức khỏe tổng thể. Tập thể dục giúp bạn thở mạnh hơn và tim đập nhanh hơn, đặc biệt quan trọng để giúp phục hồi sức mạnh cơ và cải thiện sức chịu đựng. Bạn nên đến gặp chuyên gia vật lý trị liệu để được hướng dẫn và tập luyện đúng cách. Trẻ em bị viêm cơ sẽ cần vật lý trị liệu mạnh hơn để giảm nguy cơ khớp, đặc biệt là đầu gối, bị cong vĩnh viễn. Hầu hết những người bị viêm cơ có thể phục hồi tốt. Tuy nhiên, một số người có triệu chứng nghiêm trọng có thể không bao giờ hồi phục hoàn toàn. Ngay cả những người phục hồi tốt có thể mất vài tháng để thấy sự cải thiện, vì các phương pháp điều trị cần có thời gian để giúp cơ thể sửa chữa cơ bắp. Trong thời gian này, bạn có thể khá mệt mỏi. Biến chứng bệnh viêm cơ Đôi khi, phương pháp điều trị bằng thuốc không hoạt động hiệu quả và cơ có thể vẫn yếu. Đôi khi, bệnh có thể ảnh hưởng đến hô hấp và khả năng nuốt. Điều này có thể xảy ra ở trường hợp nghiêm trọng khi các cơ ở các cơ quan này trở nên yếu. Trong những trường hợp hiếm, tình trạng này có thể gây suy tim. Nếu phổi bị viêm, nó có thể xuất hiện sẹo và ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của phổi. Tình trạng phổi và tim có thể gây khó thở trong thời gian dài. Vì lý do này, bạn có thể đến gặp bác sĩ về tim hoặc ngực nếu có nguy cơ mắc những vấn đề này. Trẻ em bị viêm bì cơ có thể có các tinh thể canxi lắng đọng trong các cơ bị tổn thương gây đau. Các tinh thể này, kết hợp với tình trạng mất khả năng vận động, đôi khi có thể dẫn đến khớp cứng vĩnh viễn. Viêm đa cơ đôi khi xảy ra ở những người có các tình trạng tự miễn khác như viêm khớp dạng thấp, lupus hoặc xơ cứng bì. Trong những trường hợp hiếm gặp, viêm cơ có thể liên quan đến ung thư. Hầu hết những người bị viêm cơ đều không phát triển ung thư, nhưng bác sĩ có thể cho làm các xét nghiệm như chụp X-quang ngực hoặc siêu âm bụng và xương chậu để đảm bảo an toàn. Viêm đa cơ polymyositis là một bệnh tự miễn tương đối hiếm gặp. Tỷ lệ mắc bệnh ở Hoa Kỳ dao động từ – trường hợp trên 1 triệu dân. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn da trắng và phụ nữ gấp đôi nam giới. Nó thường xảy ra ở những người trên 20 tuổi, đặc biệt là từ 45 – 60 tuổi. Tuy hiếm gặp nhưng hậu quả mà bệnh mang lại tương đối nặng nề. Bạn cần nhận biết sớm những triệu chứng nhằm ngăn ngừa biến chứng và làm chậm tiến triển của bệnh. Hãy cùng theo chân Youmed tìm hiểu về bệnh lý này nhé. Nội dung bài viết 1. Tổng quan về bệnh viêm đa cơ2. Triệu chứng của bệnh viêm đa cơ3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh4. Yếu tố nguy cơ bệnh viêm đa cơ5. Cách chẩn đoán bệnh6. Biến chứng của viêm đa cơ7. Cách điều trị viêm đa cơ8. Tiên lượng bệnh viêm đa cơ 1. Tổng quan về bệnh viêm đa cơ Viêm đa cơ là một bệnh tự miễn gây yếu cơ đối xứng hai bên cơ thể. Nó có thể gây khó khăn khi leo cầu thang, ngồi dậy, nâng đồ vật hoặc đưa tay qua đầu. Các triệu chứng thường tiến triển từ từ, trong vài tháng. Bệnh có thể kèm theo các tổn thương da thì gọi là bệnh Viêm da – cơ hay viêm bì cơ. Hiện không có cách nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, thuốc và vật lý trị liệu có thể cải thiện sức mạnh và chức năng của cơ bắp. 2. Triệu chứng của bệnh viêm đa cơ Các triệu chứng viêm đa cơ tiến triển từ từ trong khoảng thời gian 3-6 tháng, bao gồm Cơ bắp Tình trạng suy yếu các nhóm cơ gần với trục cơ thể như ở hông, đùi, vai, cánh tay và cổ. Các cơ bị ảnh hưởng đối xứng 2 bên cơ thể và có xu hướng nặng lên từ từ khiến bạn khó quỳ, leo trèo, giơ tay, nâng đồ vật, chải tóc hay ngồi bật dậy. Yếu cơ vùng cổ nên khó giữ tư thế đầu thẳng. Đau cơ cũng có thể xảy ra, nhưng tỉ lệ dưới 30%. Toàn thân Viêm đa cơ là một bệnh toàn thân. Các triệu chứng có thể bao gồm Giảm cân; Viêm khớp; Mệt mỏi; Chán ăn; Sốt liên quan đến kháng thể kháng Jo-1; Cứng khớp buổi sáng. Phổi Tình trạng suy yếu các cơ vùng hầu họng có thể dẫn đến các triệu chứng của viêm phổi hít, bao gồm thở khò khè, ho sặc, tím tái, tụt huyết áp… Khó thở khi gắng sức cũng xảy ra do yếu các cơ thành ngực và cơ hoành. Hệ tiêu hóa Táo bón. Bụng đầy hơi. Chứng khó nuốt. Trào ngược thức ăn lên mũi. Viêm thực quản do trào ngược. Tim Các triệu chứng gồm hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở, đau thắt ngực… Là những biểu hiện của rối loạn nhịp tim, suy tim, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim… Một khi đã xuất hiện các triệu chứng tại tim thì tiên lượng bệnh trở nên xấu đi. Tiết niệu Sự tiêu cơ vân nặng có thể gây tiểu myoglobin, có thể dẫn đến hoại tử ống thận cấp. Biểu hiện nước tiểu có màu nâu đỏ, tiểu ít. Da Hội chứng Raynaud Không giống như viêm da cơ địa, phát ban thì không xuất hiện ở bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, các dày sừng ở mặt lòng và cạnh ngoài ngón tay đã được báo cáo. Hội chứng Raynaud xảy ra khi ngón tay, ngón chân, má, mũi và tai tiếp xúc với lạnh. Da các vùng này sẽ thay đổi màu sắc từ hồng sang trắng hoặc xanh tím, tê, dị cảm. 3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được biết một cách rõ ràng. Tuy nhiên, bệnh có liên quan tới các rối loạn tự miễn. Trong đó, hệ thống miễn dịch đã tấn công nhầm vào chính các mô bình thường của cơ thể. Nghiên cứu chỉ ra rằng các tế bào lympho T gây độc tấn công vào các kháng nguyên trên cơ. Do đó, các sợi cơ sẽ bị tổn thương, viêm và suy yếu. Bệnh có thể xảy ra tự phát hoặc liên quan đến nhiễm virus, ung thư, rối loạn mô liên kết. Các virus có liên quan đến căn nguyên của bệnh gồm HIV, coxsakievirus B, retrovirus… 4. Yếu tố nguy cơ bệnh viêm đa cơ Nguy cơ cao hơn nếu bị lupus, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng bì hoặc hội chứng Sjogren. Bên cạnh đó còn có các yếu tố môi trường, đặc biệt là các tác nhân truyền nhiễm làm tăng nguy cơ gây bệnh, bao gồm Coxsackievirus B1; HIV; Virus lymphotrophic tế bào T gây bệnh ở người type 1 HTLV-1; Virus viêm gan B; Cúm; Echovirus; Adenovirus. Các loại thuốc như D-penicillamine, hydralazine, Procainamide, phenytoin và thuốc ức chế men chuyển angiotensin có liên quan đến bệnh viêm đa cơ. Statin đôi khi cũng gây viêm cơ nghiêm trọng và ly giải cơ vân. 5. Cách chẩn đoán bệnh Sau khi hỏi bệnh và khám phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ viêm đa cơ. Bác sĩ sẽ đề nghị một số xét nghiệm để loại trừ hay xác định chẩn đoán, bao gồm Xét nghiệm máu Nồng độ enzyme của cơ tăng cao như CK, GOT, GPT là dấu hiệu của tổn thương cơ. Các tự kháng thể chuyên biệt liên quan đến viêm đa cơ giúp lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất. Điện cơ Bác sĩ sẽ đặt một điện cực kim mỏng qua da vào trong cơ. Hoạt động điện được đo lúc nghỉ và vận động cơ bắp. Sự thay đổi trong mô hình hoạt động điện có thể xác định được bệnh lý ở cơ. Sinh thiết cơ Một mảnh mô cơ nhỏ sẽ được lấy ra để phân tích trong phòng thí nghiệm. Sinh thiết có thể thấy được những bất thường như viêm, tổn thương, khiếm khuyết protein hay enzyme nhất định. Chụp cộng hưởng từ MRI Khác với sinh thiết cơ, MRI có thể đánh giá tình trạng viêm trên một vùng cơ lớn. Bên cạnh đó, bạn cần biết cách chẩn đoán phân biệt. Các triệu chứng của viêm đa cơ dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác như Hạ kali máu, hạ phosphat máu, suy giáp. Bệnh nhược cơ, Loạn dưỡng cơ, bệnh cơ chuyển hóa. Viêm cơ bạch cầu ái toan, viêm cơ khu trú, viêm cơ tế bào khổng lồ. Bệnh đa rễ thần kinh trên bệnh nhân đái tháo đường. Các bệnh mô liên kết lupus, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng bì, hội chứng Sjogren. Bệnh cơ do thuốc Zidovudine, D-penicillamine, Statins, Ketoconazole… 6. Biến chứng của viêm đa cơ Suy dinh dưỡng Nếu các cơ trong thực quản bị ảnh hưởng, có thể gặp vấn đề về nuốt. Do đó có thể gây giảm cân và suy dinh dưỡng. Viêm phổi hít Khó nuốt có thể khiến hít phải thức ăn, chất lỏng, nước bọt vào phổi có thể gây viêm phổi. Bệnh phổi kẽ Bệnh phổi kẽ có thể xảy ra với những người bị viêm đa cơ. Tình trạng này gây ra xơ hóa mô phổi, làm cho phổi cứng và không co giãn. Các triệu chứng bao gồm ho khan và khó thở. Hội chứng Raynaud Là tình trạng ngón tay, ngón chân, má, mũi và tai trở nên nhợt nhạt khi tiếp xúc với lạnh. Bệnh tim mạch. Bệnh viêm đa cơ có thể khiến viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim. Trong một số ít trường hợp, suy tim sung huyết và rối loạn nhịp tim có thể tiến triển. Ung thư Ung thư phổi, vú, bàng quang và bệnh lymphoma không Hodgkin có thể tăng lên ở những bệnh nhân viêm đa cơ, đặc biệt là trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán. Biến chứng của điều trị corticoid kéo dài Chân tay teo lại, da mỏng; tăng huyết áp, đái tháo đường, hạ kali trong máu, loét dạ dày tá tràng; loãng xương… 7. Cách điều trị viêm đa cơ Hiện không có cách nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, thuốc và vật lý trị liệu có thể cải thiện sức mạnh và chức năng của cơ bắp. Việc điều trị sớm sẽ có hiệu quả và ít dẫn đến biến chứng hơn. Không có phương pháp điều trị cố định nào cho bệnh viêm đa cơ. Chiến lược điều trị sẽ được điều chỉnh dựa trên triệu chứng và mức độ đáp ứng với trị liệu. Thuốc Các loại thuốc thường được sử dụng nhất để điều trị viêm đa cơ bao gồm Corticosteroid Các loại thuốc như prednison rất hiệu quả trong việc kiểm soát các triệu chứng viêm đa cơ. Nhưng việc sử dụng kéo dài các loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Do đó bác sĩ thường giảm dần liều thuốc xuống mức thấp hơn trong quá trình điều trị. Thuốc hỗ trợ cho corticosteroid Khi kết hợp với corticosteroid, những thuốc này có thể làm giảm liều và tác dụng phụ của corticosteroid. Hai loại thuốc phổ biến nhất được sử dụng cho bệnh viêm đa cơ là azathioprine và methotrexate. Các loại thuốc khác cũng được kê toa bao gồm mycophenolate mofetil, cyclosporine và tacrolimus. Rituximab Được sử dụng phổ biến hơn để điều trị viêm khớp dạng thấp. Rituximab sẽ được chọn nếu liệu pháp ban đầu không kiểm soát được các triệu chứng của viêm đa cơ. Các liệu pháp Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, bác sĩ có thể đề nghị Vật lý trị liệu Các bài tập giúp cải thiện, duy trì sức mạnh và sự linh hoạt của cơ bắp. Bác sĩ sẽ hướng dẫn mức độ luyện tập thích hợp tùy theo tình trạng bệnh. Ngôn ngữ trị liệu Nhóm cơ hầu họng suy yếu, liệu pháp này giúp bù lại cho những khiếm khuyết trong lời nói. Đánh giá chế độ ăn uống Khi bị viêm đa cơ, việc nhai và nuốt có thể trở nên khó khăn hơn. Một chuyên gia dinh dưỡng sẽ hướng dẫn cách chế biến các món ăn dễ ăn và bổ dưỡng. Tiêm IVIG Tiêm IVIG Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch IVIG là sản phẩm máu tinh khiết có chứa các kháng thể lành mạnh. Những kháng thể này sẽ ngăn chặn các kháng thể gây hại tấn công cơ bắp trong viêm đa cơ. 8. Tiên lượng bệnh viêm đa cơ Hầu hết các trường hợp, viêm đa cơ đáp ứng tốt với điều trị. Mặc dù, tình trạng yếu cơ vẫn còn xảy ra ở khoảng 30% bệnh nhân. Loãng xương, một biến chứng phổ biến của liệu pháp corticosteroid dài hạn. Các yếu tố tiên lượng kém bao gồm Tuổi cao; Giới tính nữ; Chủng tộc người Mỹ gốc Phi; Bệnh phổi kẽ; Sự hiện diện của kháng thể kháng Jo-1 và kháng thể kháng SRP; Mắc các bệnh lý ác tính; Điều trị chậm trễ hoặc không đầy đủ; Chứng khó đọc, khó nuốt; Mắc các bệnh tim và phổi kèm theo. Hiện nay chưa có bất kỳ biện pháp nào giúp phòng ngừa bệnh viêm đa cơ. Người bệnh khi có biểu hiện cần đi khám bệnh sớm để được chẩn đoán và điều trị tốt nhất. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm trong bệnh viêm đa cơ ước tính là hơn 80%. Tử vong thường liên quan nhiều nhất đến bệnh lý ác tính hoặc biến chứng tại phổi. Tuy nhiên, bệnh nhân cao tuổi có bệnh tim hoặc khó nuốt cũng có tỷ lệ tử vong cao. Viêm đa cơ là một bệnh tự miễn hiếm gặp. Tuy nhiên, hậu quả mà chúng gây ra là rất nhiều có thể dẫn đến từ vong. Nếu có các dấu hiệu nghi ngờ của viêm đa cơ nên đến khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Tuy chưa có cách điều trị khỏi bệnh này nhưng điều trị kịp thời sẽ mang lại những tín hiệu tích cực. Bài viết hy vọng đem đến cho người đọc những kiến thức hữu ích về bệnh lý này.

bệnh viêm đa cơ